Trang chủ Tin tứcBàn về dự án luật Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội đối với cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội đối với cơ cấu lại ngành nông nghiệp

bởi 123HOST
0 bình luận
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đồng thời chỉ ra tác động tích cực qua việc giám sát của Quốc hội đến thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp; tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp; qua đó, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
Từ khóa: Giám sát , Quốc hội;  cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
Abstract: This article provides analysis of the current status of the National Assembly’s supervisory activities in the enforcement of the law on the restructure of the agriculture sector and also provides the positive impacts resulted from the National Assembly’s supervision to accelerate the restructuring process of agriculture sector; shortcomings and drawbacks in the supervisory activities of the National Assembly related to the enforcement of the law on the restructure of the agriculture sector. Thereby, recommendations are given out to aime at improving the effectiveness of the National Assembly’s supervision in the enforcement of the law on the restructure of the agriculture sector.
Keywords: Supervision, National Assembly, agriculture restructure.
  
 Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp được thực hiện thông qua hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, cụ thể như sau:
1.1. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
1.1.1. Giám sát theo chuyên đề
Thời gian qua, Quốc hội đã tăng cường các hoạt động giám sát chuyên đề liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp, có thể kể đến các chuyên đề giám sát như: (1) Chuyên đề giám sát về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn” (2012)(2) Chuyên đề giám sát về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai” (2012); (3) Chuyên đề giám sát về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014” (2015); (4) Chuyên đề giám sát về “Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010 – 2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp” (2016); (5) Chuyên đề giám sát vềViệc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2016 (2017).
Qua hoạt động giám sát chuyên đề, Quốc hội đã có những đánh giá sâu sắc tình hình thực hiện chính sách, pháp luật, những tồn tại, hạn chế và kịp thời đề ra những biện pháp hữu hiệu để khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần quan trọng trong thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
1.1.2. Hoạt động chất vấn
Bên cạnh việc thực hiện các chuyên đề giám sát tối cao, Quốc hội đã thực hiện chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội và đã xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, kết luận của Ủy ban thường vụ Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến năm 2015. Liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp, các ĐBQH đã chất vấn Thường trực Chính phủ, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về nhóm vấn đề liên quan đến đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp toàn diện, cả trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, lâm nghiệp, bảo vệ rừng và trồng rừng; thực hiện liên kết giữa các ngành trong sản xuất nông nghiệp và với các ngành khác/tiến hành các giải pháp để tiếp tục thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Quốc hội đã xem xét việc thực hiện các nghị quyết: Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26/11/2011 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 52/2013/QH13 ngày 21/6/2013 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 69/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 26/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Ngoài ra, Quốc hội giám sát việc thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp kết hợp với thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hằng năm. Trong quá trình giám sát việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hằng năm, Quốc hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Các báo cáo thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hằng năm đều cung cấp thông tin về tình hình phát triển của khu vực nông nghiệp, trong đó bao gồm cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Đây cũng là cơ sở để xây dựng nội dung Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cho năm tiếp theo.
1.1.3. Hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Thực hiện quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, hằng năm Ủy ban thường vụ Quốc hội đều triển khai các hoạt động giám sát; qua đó, phát hiện các vấn đề cần khắc phục trong hệ thống chính sách, pháp luật. Việc thực hiện giám sát các nội dung liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thực hiện chủ yếu thông qua các chuyên đề giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, một số chuyên đề giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội có nội dung liên quan có thể kể đến như sau: (1) Chuyên đề giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số” (2012); (2) Chuyên đề giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với cá nhân, tổ chức khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh” (2017).
1.1.4. Hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được giao chủ trì thực hiện các chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó, thành viên của các đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đều có các đồng chí Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tham gia.
Bên cạnh việc tham gia chương trình hoạt động giám sát hằng năm của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cũng chủ động tiến hành các hoạt động giám sát nhằm thu thập thông tin nhằm tham mưu, phục vụ công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của Quốc hội.
1.1.5. Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH và ĐBQH
Liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp, các Đoàn ĐBQH, ĐBQH tại các địa phương đã phối hợp với các Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội triển khai các chuyên đề giám sát hằng năm. Đồng thời, Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố trực thuộc TW cũng tổ chức giám sát tại địa phương theo các chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, xây dựng báo cáo kết quả giám sát theo đề cương và gửi đến Đoàn giám sát để tổng hợp, xây dựng báo cáo kết quả giám sát chung.
Một số Đoàn ĐBQH đã tổ chức giám sát các nội dung liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp như: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh thành lập Đoàn giám sát “Việc triển khai Luật Hợp tác xã năm 2012 và thực hiện chính sách, pháp luật về hợp tác xã nông nghiệp” trên địa bàn tỉnh (năm 2015); Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Yên tiến hành giám sát “Việc xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020” trên địa bàn tỉnh (năm 2015); Đoàn ĐBQH tỉnh Sóc Trăng tổ chức giám sát “Việc sử dụng vốn do Quốc hội phân bổ cho thực hiện các Chương trình MTQG trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2011 – 2015”, trong đó có Chương trình MTQG xây dựng NTM (năm 2015); Đoàn ĐBQH tỉnh Hải Dương giám sát việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh (năm 2016), giám sát tình hình xây dựng NTM tại các đơn vị cấp huyện phấn đấu thành huyện NTM từ năm 2016-2020 (năm 2017); Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp giám sát tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một số công ty chăn nuôi, chế biến thủy, hải sản trên địa bàn (năm 2017); Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên giám sát tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; nợ đọng xây dựng cơ bản nói chung và trong xây dựng NTM nói riêng, đến hết năm 2016 (năm 2017)…
Các ĐBQH đã tích cực thể hiện vai trò của người đại biểu nhân dân trong việc tham gia các hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các Đoàn ĐBQH.
Đồng thời, các đại biểu cũng đã tham gia chất vấn Thường trực Chính phủ, các Bộ trưởng về những vấn đề liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Từ năm 2013 đến hết năm 2016, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã 4 lần trả lời chất vấn trước Quốc hội.
1.2. Tác động giám sát của Quốc hội đến việc thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp
Thực hiện các nghị quyết chuyên đề giám sát và các kiến nghị của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm, chỉ đạo sát sao quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã có những tác động tích cực, góp phần đẩy mạnh việc thực hiện Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Cụ thể như sau:
(1) Hoạt động giám sát của Quốc hội đã tạo được sự chuyển biến trong nhận thức và thống nhất quan điểm của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương về sự cần thiết phải cơ cấu lại ngành nông nghiệp nhằm khắc phục những yếu kém nội tại, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
(2) Nhiều cơ chế, chính sách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương ban hành, từng bước hoàn thiện khung pháp lý tạo thuận lợi và hỗ trợ ngành nông nghiệp thực hiện cơ cấu lại.
(3) Hoạt động giám sát của Quốc hội góp phần thúc đẩy thực hiện mục tiêu của Đề án là phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người nông dân.
(4) Các quy hoạch ngành nông nghiệp đã được tập trung rà soát, điều chỉnh, đồng thời nghiên cứu xây dựng mới các quy hoạch phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
(5) Cơ cấu kinh tế ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn.
(6) Thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng, xuất khẩu tăng nhanh.
(7) Các loại hình tổ chức sản xuất được đổi mới phù hợp và hiệu quả hơn.
(8) KHCN nhất là công nghệ cao được quan tâm chuyển giao và ứng dụng ngày càng nhiều.
(9) Hoạt động giám sát của Quốc hội đã góp phần cơ cấu lại đầu tư công, phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.
(10) Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp được triển khai đồng bộ.
(11) Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả.
(12) Hoạt động giám sát của Quốc hội thúc đẩy việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM.
1.3. Những hạn chế, bất cập trong hoạt động giám sát của Quốc hội liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp
Có thể nói, hoạt động giám sát của Quốc hội liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp đã góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp trong cán bộ, nhân dân; kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về nông nghiệp còn bất cập. Tuy nhiên, công tác giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực này thời gian qua còn những hạn chế, bất cập sau đây:
Thứ nhất, về nội dung giám sát, các giám sát chuyên sâu về cơ cấu lại ngành nông nghiệp chưa nhiều, trong khi đây là lĩnh vực có tác động lớn đến đời sống người dân, nhất là bộ phận dân cư nông thôn. Trên thực tế, việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực cơ cấu lại ngành nông nghiệp chưa được triển khai thường xuyên nên chất lượng nhiều văn bản được ban hành còn hạn chế; nhiều quy định được ban hành còn chậm, còn mâu thuẫn, chồng chéo, khó thực hiện.
Thứ hai, về phương thức giám sát còn nhiều bất cập, có thể kể đến như sau:
– Việc giám sát vẫn còn dựa nhiều vào báo cáo của cơ quan chịu sự giám sát, thời gian đi thực tế và trao đổi với các cơ quan chịu sự giám sát còn ít, phần nào ảnh hưởng đến tính đầy đủ, toàn diện của các nhận định, đánh giá trong quá trình giám sát.
– Việc tổ chức triển khai thực hiện hoạt động giám sát chuyên đề có lúc còn gặp khó khăn, bất cập nhất định. Thời gian làm việc với một số Bộ, ngành, địa phương thay đổi so với kế hoạch; việc tham gia của các thành viên trong Đoàn có lúc còn chưa đầy đủ; việc tổ chức các cuộc hội thảo liên quan đến chuyên đề chưa thực sự hiệu quả; việc lựa chọn các cơ quan để làm việc ở một số nơi chưa đạt yêu cầu đề ra; việc gửi báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát, việc cung cấp thông tin của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chậm… việc xác định trách nhiệm cá nhân đối với những mặt hạn chế còn chưa rõ, một số báo cáo còn chưa đầy đủ, thiếu số liệu minh họa, do đó thông tin cung cấp cho ĐBQH không đảm bảo yêu cầu chất lượng.
– Hoạt động chất vấn bị giới hạn do căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của ĐBQH, Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn. Do đó, kể từ 1/7/2016 đến nay lĩnh vực NN&PTNT mới bị chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV.
– Hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đối với việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp còn hạn chế. Một số Ủy ban được giao triển khai chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên không có điều kiện để triển khai các chuyên đề của Ủy ban. Bên cạnh đó, kết quả giám sát của các cơ quan này mặc dù đã phát hiện, chỉ ra được một số bất cập, hạn chế trong thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp và đề xuất kiến nghị với Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả chưa cao.
– Sự tham gia của các ĐBQH ở TW, các ĐBQH kiêm nhiệm trong hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH các địa phương còn hạn chế; quy định về việc thành lập Đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH[1] gây khó khăn cho một số Đoàn vì số lượng ĐBQH trong một Đoàn không nhiều; sự phối hợp hoạt động giám sát giữa HĐND và Đoàn ĐBQH vẫn có sự chồng chéo.
– Hoạt động giải trình chưa được thực hiện chưa nhiều, chưa cân đối với các hoạt động khác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và những vấn đề nổi lên trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
– Công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát chưa được chú trọng thực hiện.
Thứ ba, việc thành lập Đoàn giám sát còn gặp một số khó khăn do thiếu chuyên gia trong lĩnh vực giám sát, cơ cấu ĐBQH trong Đoàn giám sát chưa bao quát hết các khía cạnh của quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp; việc tham gia hoạt động của Đoàn giám sát của thành viên Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban có thời điểm còn chưa đầy đủ do đa số ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp
2.1. Về hoàn thiện quy định pháp luật đối với hoạt động giám sát của Quốc hội
– Thực hiện sơ kết việc thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng giám sát của Quốc hội.
– Hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc, xử lý trách nhiệm của các đối tượng chịu giám sát; quy định hình thức phù hợp để xem xét trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi không thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nội dung trong các nghị quyết giám sát, các kiến nghị giám sát chuyên đề… để đảm bảo tính nghiêm minh trong hoạt động giám sát của Quốc hội.
– Từng bước hoàn thiện quy định về chế độ, kinh phí cho việc thuê khoán chuyên gia, hỗ trợ tìm kiếm thông tin cho ĐBQH trong hoạt động giám sát.
– Quy định chi tiết hơn về hoạt động của Ủy ban lâm thời do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định. Cần xác định rõ việc thu thập chứng cứ của Ủy ban lâm thời được tiến hành theo thủ tục tố tụng nào; các toà án và chính quyền địa phương có trách nhiệm phải giúp đỡ về mặt pháp lý và chuyên môn đối với Ủy ban hay không; các phiên họp của Ủy ban điều tra diễn ra công khai hay họp kín; Ủy ban lâm thời có quyền triệu tập các nhân chứng như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội hay những người được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn hay không và sự có mặt nhân chứng có bắt buộc không…
2.2. Kiến nghị cụ thể đối với hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH,ĐBQH
– Cần tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đặc biệt cần tập trung vào hai hình thức giám sát là giám sát theo chuyên đề và giám sát thông qua chất vấn.
– Tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động giám sát và hoạt động lập pháp, hoạch định chính sách về cơ cấu lại ngành nông nghiệp của Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần xác định nhằm cung cấp thông tin thực tiễn để hoàn thiện chính sách, pháp luật, do đó, các kiến nghị, đề xuất sau giám sát cần được nghiên cứu nâng lên thành các chính sách để Quốc hội tiến hành xem xét, có giải pháp cụ thể. Trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc yêu cầu các Bộ, ngành giải trình về các chính sách trong các dự án luật, giải trình về việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu Quốc hội đã đề ra trong lĩnh vực nông nghiệp.
– Tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đối với việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Hội đồng Dân tộc và mỗi Ủy ban của Quốc hội được phân công phụ trách một mảng công việc chuyên môn khác nhau, đều có liên quan nhất định tới quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Do đó, việc Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tăng cường giám sát cấp Hội đồng/Ủy ban đối với cơ cấu lại ngành nông nghiệp sẽ bảo đảm tính chuyên môn sâu, cũng như tập hợp được đa góc độ về bức tranh tổng thể của quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp.           
– Tăng cuờng hơn nữa sự phối hợp giữa Đoàn ĐBQH và các cơ quan, đoàn thể ở địa phương trong giám sát việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Việc phối hợp này sẽ tạo điều kiện cho các ĐBQH trao đổi thông tin về tình hình chấp hành pháp luật và triển khai cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở địa phương, cũng như kịp thời phát hiện nhanh chóng những vướng mắc, bất cập cần được tháo gỡ, góp phần nâng cao chất lượng giám sát của Đoàn ĐBQH và ĐBQH.
– Đa dạng hóa phương thức cũng như nâng cao chất lượng cung cấp thông tin cho ĐBQH để thực hiện các nhiệm vụ của người đại biểu. Thực tế hoạt động cho thấy có hai nguồn thông tin rất quan trọng trong quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp, rất cần được quan tâm, đó là: (i) Dư luận xã hội nhất là từ báo chí và các phương tiện thông tin, truyền thông về vấn đề mà ĐBQH quan tâm; (ii) Những kiến nghị, khiếu nại của nhân dân, cử tri nhất là của đối tượng chịu sự tác động bởi những văn bản về cơ cấu lại ngành nông nghiệp gửi tới Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban và ĐBQH hoặc thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri.
– Chú trọng vấn đề hậu giám sát; tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc các cơ quan có trách nhiệm thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chuyên đề giám sát, các kiến nghị của Đoàn giám sát đã được Quốc hội chấp thuận.
– Đối với hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, tại các phiên chất vấn và trả lời chất vấn, ĐBQH cần tăng cường tranh luận đến cùng với các thành viên Chính phủ về những vấn đề liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp đã được trả lời nhưng chưa thỏa đáng; thông tin tranh luận phải chính xác, đúng phạm vi, trọng tâm chất vấn.
Tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, sau khi kết thúc phiên chất vấn và trả lời chất vấn định kỳ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ra nghị quyết nhằm nâng cao tính pháp lý của các kết luận, quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, làm căn cứ để các cơ quan báo cáo việc thực hiện tại kỳ họp cuối năm của năm giữa nhiệm kỳ và năm cuối nhiệm kỳ cùng với việc xem xét các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và giám sát chuyên đề.
Tổng hợp các câu hỏi và trả lời chất vấn thành các tập tài liệu theo định kỳ nhằm cung cấp thông tin cho ĐBQH và cử tri, giúp ĐBQH tránh được tình trạng đặt các câu hỏi trùng lặp tại các kỳ họp Quốc hội trong một nhiệm kỳ. Đồng thời, việc này cũng giúp các ĐBQH, kể cả những đại biểu không đặt câu hỏi, có thể giám sát các biện pháp đã triển khai nhằm thực hiện cam kết của các thành viên Chính phủ trong các phiên chất vấn.
– Đối với hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, để hạn chế tối đa những khó khăn cho các cơ quan chịu sự giám sát, các địa phương cũng như các cơ quan hữu quan trong việc tham mưu, tổ chức phục vụ, trong thời gian tới, ngay từ khi lựa chọn chuyên đề giám sát, cần xem xét phạm vi về thời gian cho phù hợp; sớm kiện toàn tổ chức, triển khai công tác chuẩn bị các đoàn giám sát tối cao của Quốc hội để tránh dồn dập vào cùng một thời điểm, tránh tạo áp lực đối với các cơ quan chịu sự giám sát.
Về thành phần đoàn giám sát, căn cứ nội dung giám sát, cần lựa chọn đại biểu có chuyên môn sâu, đúng chuyên ngành, lĩnh vực về nội dung giám sát liên quan đến cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, căn cứ vào nghị quyết, kế hoạch, nội dung, chương trình giám sát, ưu tiên và tạo điều kiện để các thành viên của cơ quan mình trong thành phần Đoàn giám sát tham gia đầy đủ các hoạt động của Đoàn. Bên cạnh đó, cần huy động nguồn lực từ các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát.
Về đề cương giám sát, cần lập đúng trọng tâm và đủ các thông tin phục vụ cho nội dung giám sát. Việc dự thảo đề cương báo cáo giám sát cần được xây dựng trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của đối tượng giám sát, các thông tin phản ánh trên báo chí, qua tiếp xúc cử tri, tiếp công dân… Thành lập các tổ công tác đi tiền trạm tại một số địa phương để thu thập thông tin về tình hình triển khai cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở địa phương, tổng hợp các vướng mắc, bất cập để hoàn chỉnh đề cương giám sát. Việc gửi kế hoạch, đề cương giám sát cho cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát cần theo đúng tiến độ, bảo đảm thời gian chuẩn bị báo cáo.
Về tiến hành giám sát tại các cơ quan, đơn vị, cần kết hợp chặt chẽ giữa nghe báo cáo và khảo sát thực tế. Thành viên Đoàn giám sát phải nắm vững chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật về nội dung giám sát, nghiên cứu kỹ các báo cáo, kết hợp với xem xét các hồ sơ cần thiết có liên quan, ý kiến cần có tính chất vấn, phản biện… đặc biệt, cần thu thập thêm thông tin tại các buổi khảo sát thực tế, có xác minh tại chỗ để làm căn cứ đưa ra các nhận định, đề xuất các kiến nghị sau giám sát. Trong quá trình giám sát cần đi sâu, tìm hiểu kỹ tình hình thực hiện tại cơ sở, yêu cầu đối tượng giám sát cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết; có thể tổ chức các đoàn khảo sát để thu thập thông tin sâu hơn cho báo cáo kết quả giám sát.
Về báo cáo kết quả giám sát, cần đảm bảo tính khách quan, chính xác, trung thực, sát thực tế và quan trọng nhất là phải chỉ rõ những hạn chế, tồn tại cụ thể, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nêu ra được những kiến nghị, đề xuất rõ ràng, chính xác, phù hợp, khả thi gắn với các mốc thời gian cụ thể để các cơ quan tổ chức thực hiện được, tránh việc kết luận, kiến nghị chung chung, gây khó khăn cho việc thực hiện.
– Đối với hoạt động giải trình, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cần tăng cường hoạt động giải trình về những vấn đề nổi cộm, bức xúc thuộc lĩnh vực phụ trách nhằm góp phần tăng cường hiệu quả, hiệu lực thực hiện pháp luật về cơ cấu lại ngành nông nghiệp; đồng thời giúp giảm tải nhóm vấn đề đưa ra giám sát và chất vấn tại kỳ họp Quốc hội cũng như tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc giải trình phải trọng tâm, trọng điểm, đúng phạm vi, chức năng của Hội đồng, Ủy ban.

– Đối với các kiến nghị sau giám sát, quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị sau giám sát cần được xác định là quá trình tiếp tục của hoạt động giám sát, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục; chưa có kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát đồng nghĩa với việc hoạt động giám sát chưa kết thúc. Đặc biệt, những vấn đề sau giám sát được kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được giải quyết cần tổ chức giám sát lại để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát. Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội ban hành nghị quyết về thực hiện kiến nghị giám sát. Đây là biện pháp sử dụng vai trò quyền lực nhà nước để đảm bảo tính nghiêm minh trong giám sát, buộc các bên liên quan phải thực hiện./.


[1] Khoản 1 Điều 52 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND quy định: “…Đoàn giám sát do Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng Đoàn ĐBQH làm Trưởng đoàn và có ít nhất ba ĐBQH là thành viên Đoàn ĐBQH tham gia Đoàn giám sát…”.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21 (397), tháng 11/2019.)

Bình luận bài viết

Có thể bạn quan tâm

02873-002-123